CO: Các nhà đầu tư theo giá trị (Value), với NAV cực lớn. Có sức điều phối được cả 1 chu kì của ngành nghề nói chung và của cổ phiếu nói riêng. (Thường thì là các tổ chức, tập đoàn lớn trong nước cũng như nước ngoài đều có) Lưu ý ngay cả CO cũng phải cạnh tranh hàng với các tổ chức khác.
ITF : Đầu tư tăng trưởng, thường đánh theo chu kì giá (Các quỹ, bank, sàn, công ty đầu tư..)
Pro - trader: Giao dịch lướt sóng ngắn hay theo sóng dài. (Tự doanh, Retail,...)
Retail- Trader: Nhà đầu tư nhỏ. Ra vào trong ngày. (Chúng ta).
Mặc dù lý thuyết nến truyền thống nhìn
đồ thị giờ, ngày, tuần hoặc tháng, nhưng cũng như khi chúng ta làm với
đồ thị thanh, với đồ thị Ichimoku thì (hầu như) người ta sử dụng đồ thị
ngày. Một số ý kiến cho rằng, một số người sử dụng đồ thị Ichimoku đã bẻ
cong luật lệ và sử dụng đồ thị (chart) tháng, tuần hoặc giờ – và bài
học đưa ra là: không bao giờ sợ việc thử nghiệm.
Thực tế là nến trên đồ thị ngày được sử
dụng có nghĩa là hệ thống cho chiến lược vừa và dài hạn, và do đó không
thích hợp cho nhà đầu cơ và giao dịch hàng ngày (day traders).
Sử dụng giá ở giữa (mid-prices)
Bây giờ chúng ta bắt đầu di chuyển vào
phạm vi
(territory)
mới! Đồ thị Ichimoku khác so với những đồ thị của người phương Tây ở
chỗ chúng không được tạo ra bằng cách sử dụng giá đóng cửa hàng ngày.
Thay vào đó, “giá ở giữa – mid-prices” được sử dụng. Phương thức này lấy
trung bình của giá cao nhất và thấp nhất trong ngày (chỉ cần cộng giá
cao và thấp và chia hai). Việc tính toán giữa giá không được điều chỉnh
cho khối lượng. Đây là một phương pháp tốt cho những thị
trường có thời điểm cắt thoát ra tùy ý, chẳng hạn như ngoại hối là một
thị trường toàn cầu 24 giờ, hoặc cho các thị trường nhỏ có thể thực hiện
thao túng vào những khoảng thời gian nhất định.
2. Đường di chuyển trung bình (moving averages)
Mô hình nến với đường trung bình
Khi nến hàng ngày được vẽ ra, điều tiếp
theo cần làm là thêm hai đường trung bình. Chúng được sử dụng trong
cùng một cách như ở phương Tây, với hai đường giao nhau cho tín hiệu mua
hoặc bán. Khi trung bình ngắn hạn nằm trên đường dài hạn, xu hướng cổ
phiếu là giá đi lên, khi đường trung bình ngắn hạn giảm xuống thấp hơn
đường trung bình dài hạn, đó là một tín hiệu bán. Xu hướng tiếp diễn cho
đến lúc có tín hiệu ngược lại.
Chỉ số FTSE 100 với các đường trung bình động
Đối với các đồ thị Ichimoku chúng ta sử dụng hai đường trung bình động (moving-averages) về giá, cụ thể đó là:
1. Tenkan-sen (“Đường chuyển đổi” – Conversion line): là một đường trung bình động về giá chín (09) ngày. Và
2. Kijun-sen (“Đường tiêu chuẩn” – Base line): là một đường trung bình động về giá hai mươi sáu (26) ngày.
Như thường lệ, đường trung bình ngắn
hạn di chuyển xung quanh đường trung bình dài hạn, cho tín hiệu từ bán
(short) sang mua (long) hoặc ngược lại tại các điểm cho điểm giao nhau
của chúng.
Nguồn gốc của số 9 và số 26 ngày được coi như khoảng thời gian đường trung bình giá
Số ngày sử dụng ở trên liên quan đến
một thực tế là ở Nhật Bản họ có 6 ngày làm việc trong 1 tuần từ thứ Hai
đến thứ Bảy, và trung bình điển hình là 26 ngày làm việc trong một
tháng. Khoảng thời này đã trở thành đường trung bình tiêu chuẩn. Trong
khi đó, bằng cách thử và sai, và thử nghiệm đi thử nghiệm lại nhiều lần,
chín (09) ngày đã được chứng minh sẽ cho kết quả tốt nhất khi sử dụng
kết hợp với 26 ngày. Tôi cảm thấy rất tội nghiệp cho những sinh viên đã
làm tất cả những việc tính toán thử và sai đó (trước khi máy tính ra
đời); và tôi tin rằng họ đã phải ký thỏa thuận bảo mật khi làm việc cho
công việc tẻ nhạt này.
Liệu có nên sử dụng khung thời gian tính đường trung bình theo người phương Tây?
Câu hỏi được đặt ra là liệu chúng ta có
nên thay đổi số ngày sử dụng cho các đường trung bình để phản ánh việc
hiện tại chúng ta chỉ có 5 ngày làm việc trong 1 tuần. Vâng, có thể –
trong trường hợp này chúng ta có thể sử dụng khoảng thời gian mười và
hai mươi ngày theo lịch làm việc của người phương Tây.
Nhưng lý do tôi đã không làm như vậy là
phần lớn vẫn còn dính vào các tiêu chuẩn của ngành công nghiệp (phân
tích chứng khoán – chú thích của người dịch). Và vì sự đam mê của tôi về
tất cả mọi thứ trong biểu đồ là tìm hiểu ở thời điểm nào và khi nào thì
những người khác sẽ bị buộc phải phản ứng – tâm lý của thị trường – tôi
muốn nhìn vào thị trường để thấy những điều đó diễn ra với họ.
Vì vậy, tôi vẫn gắn liền việc sử dụng
những tiêu chuẩn truyền thống (market conventions) trong cuốn sách này
cũng cách tôi đã làm trong tất cả các khía cạnh khác của phân tích kỹ
thuật. Với đường trung bình của phương Tây (Moving averages) tôi sử dụng
khung thời gian mười (10), hai mươi (20), năm mươi (50) và hai trăm
ngày (200). Nói cách khác, tôi muốn biết những điểm nào người khác sẽ
hoảng sợ và bị “lật” (flip) về vị thế, chứ không phải ở thời điểm mà tôi
sẽ phải buộc hành xử như vậy, bởi vì sau đó sự đảo chiều quan trọng sẽ
xảy ra. Hãy nhớ rằng: đừng cố gắng và đừng tỏ ra quá thông minh; chỉ làm
những gì bạn làm tốt bởi vì như vậy đã là quá đủ rồi.
Đường trung bình cũng đồng thời là mức hỗ trợ và mức kháng cự
Một sự khác biệt nữa giữa các phương
pháp của phương Tây và Ichimoku là những đường trung bình, nó sẽ cho bạn
biết bạn đang ở trong xu hướng nào (tăng hay giảm giá), và tự bản thân
nó cũng thể hiên những mức hỗ trợ và kháng cự.
Ví dụ, trong thị trường tăng giá (hay
là “Koten” trong tiếng Nhật), thì giá cả có thể chững lại và củng cố
tích lũy trước khi tiếp tục đà tăng giá. Ở mức giá cao bao nhiêu thì nó
sẽ bị kéo lại hay giảm (pull back) sẽ phụ thuộc vào các yếu tố khác,
trong đó các đường trung bình sẽ nói cho chúng ta biết điều đó.
Mức trung bình của chín (09) ngày
thường di chuyển gần với giá hiện tại, và do đó sẽ là khu vực đầu tiên
hỗ trợ (support) để hạn chế giá không bị kéo lại (pull back – hay giảm
giá). Đường trung bình giá hai mươi sáu (26) ngày sẽ ở mức xa hơn so với
mức giá hiện hành, và là một vùng hỗ trợ quan trọng. Giá cổ phiếu
thường tự động bật mạnh lên lại khi gặp các hỗ trợ quan trọng trong một
xu hướng tăng, nhưng nếu nó không như thế, thì đó sẽ là tín hiệu cảnh
báo đầu tiên của một đợt đảo chiều xu hướng tiềm năng.
Trong một thị trường giảm giá (hay là
“gyakuten” trong tiếng Nhật) cũng có cùng những quy tắc như vậy (Ý tác
giả nói khi ấy đường trung bình giá ngắn hạn 9 ngày (tenkan-sen) và
đường trung bình giá 26 ngày (kijun-sen) sẽ là các mốc kháng cự quan
trọng – người dịch).
LME Giá đồng kim loại trong 3 tháng với hai đường trung bình động
Mức độ dốc của các đường trung bình sẽ phản ánh sức mạnh của xu hướng.
Cũng lưu ý rằng độ dốc của đường trung
bình giá 26 ngày (Kijun sen) cũng khá quan trọng. Trong một xu hướng
giảm hoặc xu hướng tăng càng có độ dốc lớn, nó càng thể hiện xu hướng
hiện nay là mạnh và nhiều khả năng xu hướng đang hiện hữu sẽ là tiếp
tục. Tuy nhiên, nếu nó được di chuyển lên xuống rất nhẹ nhàng, và đặc
biệt là nếu nó bằng phẳng, người ta cho rằng như thế là không có xu
hướng chung.
Một góc giữa 33 và 45 độ là tốt. Chúng
ta sẽ không đề cập việc các đường trung bình Tenken và Kijun cắt nhau.
Ví dụ, xem đồ thị EUR/GBP sau:
Đồng Euro/Bảng Anh với hai đường trung bình động
Như bạn có thể thấy trong đồ thị trên,
phương pháp này (Ichimoku Kinko Hyo) thực sự không hiệu quả cho thị
trường không có xu hướng. Dòng màu xanh lá cây là đường trung bình 26
ngày (Kijun sen) được coi là đã di chuyển theo một đường phẳng kể từ
tháng 9. Do đó, đồ thị Ichimoku sẽ áp dụng tốt nhất trong một giai đoạn
giao dịch có xu hướng rõ ràng (trend following).
Nhìn về phía trước
Cũng như mức trung bình của chín (09)
và hai mươi sáu ngày (26) ở phía trước cũng được sử dụng như là các điểm
hỗ trợ hay kháng cự tiềm năng trong một động thái lớn hơn. Giả sử một
mức giá cao quan trọng được hình thành trên đồ thị ngày hôm nay, các nhà
giao dịch Nhật Bản sẽ xác định được 9 va 26 ngày làm việc trước, và
theo dõi những dấu hiệu chỉ một sóng nhỏ trong một một mức độ lớn đã kết
thúc.
Do một số lý do họ cũng đôi khi sử dụng
mười tám (18) ngày (mà không phải là 26-9). [Điều này được thảo luận
chi tiết trong chương sau.]
Dự báo giá vàng cho 9, 18 ngày phía trước từ điểm thấp (LOW) quan trọng
Khái niệm này có thể rất quen thuộc
đối với những nhà đầu tư đã sử dụng Lý thuyết chu kỳ (Cycle Theory).
Phương pháp này một lần nữa bắt đầu với mức những giá cao hay thấp quan
trọng, phương pháp phản ánh những ngày có mức giá trùng với dãy số
Fibonaci. Tại những điểm các chu kỳ trùng hợp với những ngày cụ thể
trong tương lai, tạo ra khả năng lớn cho việc hình thành mức cao hoặc
thấp quan trọng.
3.Vẽ những đám mây
Chỉ số FTSE 100 với các đường trung bình động và đám mây
Đây là mô hình nến ngày, màu xanh lam
như chúng ta đã thấy trước đây. Các đường trung bình đã được tính toán:
màu hồng cho 9 ngày (Tenkan sen) và màu xanh đậm cho 26 ngày (Kijun
sen).
Senkou Span A & B
1. Đường đầu tiên của đám mây, đường
màu hồng đậm, được biết đến như Senkou Span A (“Đường dẫn thứ 1” –
Leading Span A) và được tính toán bằng cách cộng đường trung bình Tenkan
(trung bình 9 ngày) và đường trung bình Kijun (trung bình 26 ngày) lại
và chia đôi. Sau đó đường này được vẽ đẩy về trước của đồ thị 26 ngày
giao dịch.
2. Đường thứ hai (màu ngọc lam), được
gọi là Senkou Span B (“Đường dẫn thứ 2” – Leading Span B), được tính
bằng cách tìm các mức giá cao nhất trong số 52 ngày gần nhất, cộng với
giá thấp nhất của 52 ngày đó, và chia đôi. Đường này cũng được vẽ đẩy về
trước 26 ngày.
Vì vậy, mặc dù hai đường Senkou Span có
tên tương tự, nhưng cách cấu tạo và xây dựng của chúng là rất khác
nhau. Khoảng cách giữa hai đường Senkou Span được tô màu – đó chính là
đám mây.
GHI CHÚ
Một số chương trình thay đổi màu
sắc của đám mây phụ thuộc vào việc đường Span A hay đường Span B ở phía
trên – như trong đồ thị được cung cấp ở trên đây của Reuters. Các đám
mây màu hồng đậm nếu Span A ở phía trên và màu ngọc lam nếu Span B ở
phía trên. Trong trường hợp không có thì không được báo hiệu màu sắc.
Senkou Span A
Senkou Span A được tính bình quân của
26 ngày gần nhất, là tổng của đường trung bình 9 ngày (Tenkan-sen) và
đường trung bình 26 ngày (Kijun-sen) chia hai.
Senkou Span B
Senkou Span B cũng tương tự như mức
kháng cự 50% và là điểm giá ở giữa của 52 ngày qua. Span B thường là
phẳng vì dữ liệu để tính đường này là mức giá cao nhất và mức giá thấp
nhất; vì vậy các mức giá này sẽ được sử dụng cho đến khi xuất hiện mức
giá cao hơn hoặc thấp hơn. Nếu không ta phải đợi 52 ngày trôi qua mới
xuất hiện sự thay đổi của đám mây. Ý tưởng ở đây là thời gian trôi qua
nhưng sự hỗ trợ và kháng cự không đổi ở mức 50% trong giai đoạn củng cố,
tích lũy của thị trường hoặc cổ phiếu.
Các yếu tố tính hai nửa của thị trường
(lấy giá cao nhất cộng với giá thấp nhất chia đôi – người dịch), cùng
với yếu tố thời gian, chính là các yếu tố cốt lõi của đồ thị và hệ thống
giao dịch Ichimoku Kinko Hyo.
Một ví dụ khác của Senkou A và B, với màu Mây ở giữa:
Chú ý rằng đầu tháng 11 đám mây dày và sau đó trở nên mỏng vào giữa tháng 12.
Tương tự như đường xu hướng (trend lines)
Nhiều người thấy những ý tưởng của việc
đưa các đường giá trung bình (Senkou Span A và Senkou Span B) về phía
trước đồ thị là bất thường. Nhưng nếu bạn suy nghĩ những đường này không
phải là đường trung bình, mà đóng vai trò như là đường chỉ báo của một
xu hướng, thì bạn sẽ thấy rằng ở phương Tây cũng vậy, chúng ta thường vẽ
ra các đường (lines) trong tương lai. Tất nhiên đó là đường xu hướng
(trend lines), nhưng cũng có những đường giới hạn hình thành như hình
tam giác, đường ngang cổ (neckline) của mô hình vai đầu vai
(head-and-shoulder), đỉnh mở rộng (broadening tops), và các fan hâm mộ
của đường Gann (Gann lines).
Và đó cũng như cách những đám mây
(clouds) được tạo thành. Trong chương tiếp theo chúng ta sẽ xem xét làm
thế nào để đọc vị và giải thích các đám mây này.
Đường Chikou Span
Đường cuối cùng được đề cập là Chikou Span (“Đường chậm” – Lagging Span).
Một
số trang sẽ vẽ biểu đồ lùi đường giá hiện tại về 25 ngày trước. Bạn sẽ
biết liệu đây có phải là điều đặc biệt k hi các đường Chikou lên và
xuống trong ngày như những thay đổi giá tại thời điểm hiện tại.
Trong đồ thị trên, Chikou Span là dòng
màu xanh đậm. Đây là mức giá đóng cửa hôm nay được lùi về 26 ngày sau
thời điểm đóng cửa cuối ngày.
Ví dụ – Tính toán cấu trúc Ichimoku
Dữ liệu
Vào ngày 10 tháng 10 năm 2005, giá của FTSE100
Giá cao nhất 5,395.8
Giá thấp nhất ngày 5,362.3
Giá đóng cửa 5,374.5
Tính toán
Vào cùng ngày (10/10/2005), chúng ta có thể tính:
Giá ở giữa = (giá cao nhất + giá thấp nhất )/2 = (5,395.8+5,362.3)/2 = 5,379.1
Chỉ
báo Ichimoku là một công cụ tích hợp của việc phân tích kỹ thuật được
giới thiệu vào năm 1968, bởi người sáng lập là Goishi Hosoda. Ý tưởng hệ
thống này là khả năng nhận biết nhanh chóng việc hiểu trạng thái xu
hướng, sự chuyển động giá, và có tất cả 5 nhân tố của hệ thống kết hợp
với sự chuyển động giá, với quan điểm đặc tính chu kỳ của các mối liên
hệ, với điều kiện chuyển động nhóm của hành vi con người. Hãy cùng tìm
hiểu những khái niệm cơ bản nhất nhé!
Số học Ichimoku – ba trụ cột cơ bản
Hơn 95% các Trader, các thầy dạy trade,
các chuyên gia phân tích đều xem 5 đường nói trên là yếu tố cơ bản của
Ichimoku. Nhưng thật ra điều đó chưa đúng. Cơ sở của Ichimoku bao gồm 3
trụ cột chính được liệt kê dưới đây:
Lý thuyết số học Ichimoku
Lý thuyết sóng Ichimoku
Lý thuyết giá Ichimoku
Đây là 3 trụ cột chính làm nên cơ sở của Ichimoku, nhưng gốc rễ của cả 3 cột trụ này đều đến từ lý thuyết số học của Ichimoku.
Goichi Hosada (người sáng lập nên
Ichimoku) đã dành hơn 4 năm để nghiên cứu và phát triển Ichimoku dựa
trên lý thuyết số học. Ông nghiên cứu rất nhiều lý thuyết từ phương Đông
đến phương Tây, và cuối cùng dừng lại với 3 con số mà ông cho là quan
trọng nhất với Ichimoku. Bạn có lẽ cũng đã biết về 3 con số đó: đó là 9,
17 và 26. Đây là lý do vì sao đường Kijun Sen được thiết lập với chu kỳ
26, con số 26 liên quan đến công trình của riêng Goichi, không liên
quan đến 6 ngày giao dịch trong một tuần theo thị trường tài chính Nhật
Bản (và có rất nhiều Trader hiểu nhầm vấn đề này). Điều này có nghĩa là
cho dù bạn đang dùng khung thời gian nào để trade, việc thiết lập các
thông số của Ichimoku cần được giữ nguyên vẹn y như bản gốc.
Số học Ichimoku – nguyên tắc 10 số
Bạn đã biết có 3 số quan trọng nhất
trong Ichimoku, nhưng hệ thống của Ichimoku có đến tất cả là 10 số, bao
gồm các số sau (hãy đọc thật kỹ)
9 -17 – 26 là 3 số quan trọng nhất.
Các số khác bao gồm: 33 – 42 – 65 – 76 – 129 -172 – 200 – 257
Giờ bạn có thể thử một phép tính như sau:
Lấy 9 + 17, được 26.
Lấy 26 + 17 = 42 +1
Lấy 33 + 9 = 42
Lấy 33 x 2 = 65 +1
Lấy 42 + 33 = 76 -1
Lấy 65 × 2 = 129 + 1.
Lấy 129 + 42 = 172-1.
Như vậy, tất cả những con số này đều có sự liên quan mật thiết với nhau.
Áp dụng số học Ichimoku trong thực tiễn
Lý tưởng nhất là Trader nên sử dụng lý thuyết số học kết hợp với 2 trụ cột còn lại của Ichimoku là lý thuyết về giá và về sóng.
Ví dụ dễ hiểu nhất là bạn sẽ thấy hành vi giá thường phản ứng rất mạnh với những con số của Ichimoku.
Tất nhiên, số học Ichimoku không phải
chén thánh giúp bạn phát hiện điểm đảo chiều sớm, nó chỉ cho bạn biết
bạn nên chú ý những vùng giá có khả năng đảo chiều cao. Trong thị
trường, việc tiên liệu trước một sự việc còn quan trọng hơn cả việc dự
báo sự việc đó (vì dự báo thì thường sai, còn tiên liệu cho bạn rất
nhiều kịch bản để chuẩn bị).
Một ví dụ với AUDUSD chart daily, ở đây bạn quan sát thấy.
AB = 41 (di chuyển 41 nến trước khi đảo chiều)
BC = 16 (16 nến trước đảo chiều)
CD = 26 nến.
DE = 18 nến (17+1)
EF = 26 nến.
Đây chỉ là một ví dụ nhỏ nên có thể
không chính xác nếu bạn quan sát nhiều chart khác nhau, vì thế hãy xem
đây là ví dụ tham khảo trước đã. Một số thông tin thú vị bạn có thể tham
khảo khi ứng dụng Ichimoku như: các cặp JPY thường phản ứng mạnh với
Ichimoku hơn so với các cặp khác, có lẽ vì nhiều Trader người Nhật sử
dụng Ichimoku trong Trading?
Tóm lại, dù chỉ là phần giới thiệu về
Ichimoku nhưng mình muốn anh em nắm rõ Ichimoku không phải là lý thuyết
về 5 đường cơ bản (Kijun Sen, Tenkan Sen…) nó là một học thuyết vững
chắc xây dựng trên lý thuyết số học, lý thuyết về giá và về sóng.
Ichimoku bản thân nó đã là một hệ thống và một phương pháp độc lập,
không cần kết hợp với các phương pháp nào khác. Goichi Hosada đã từng
nói về điều này vào giữa những năm 80: “Trong số 10.000 người sử dụng
ichimoku, có lẽ chỉ có 10 người là thực sự hiểu Ichimoku.”
Nếu giá nằm phía trên đám mây, tức là
xu hướng hiện tại là xu hướng tăng. Đỉnh của đám mây là hỗ trợ đầu tiên
của giá, còn đáy của đám mây sẽ là hỗ trợ thứ hai của giá.
Từ kinh nghiệm cho thấy, hai mức hỗ trợ
này thực sự hiệu quả, nhưng một trong hai mức đó sẽ đưa ra tín hiệu hơi
trễ 1 chút. Thường thường, tôi sẽ chờ cho giá ngày hôm đó kết thúc để
biết liệu giá có đóng cửa dưới đám mây hay không, nếu có, thì mới xem
xét khả năng đảo chiều của giá.
Ngược lại với xu hướng tăng, hai mức cao nhất và thấp nhất của đám mây Kumo cũng đóng vai trò làm kháng cự rất tốt.
Thường thì giá sẽ breakout qua mức
kháng cự / hỗ trợ đầu tiên của đám mây nhưng sau đó sẽ dừng lại đâu đó ở
giữa đám mây. Khi điều này xảy ra, chúng ta phải xem xét mẫu hình nến
hiện tại để phân tích xem giá có đưa ra tín hiệu đảo chiều hay không.
Thủ thuật vào lệnh dựa vào đám mây
Đám mây Kumo rất hữu ích khi sử dụng để
vào lệnh. Chúng ta có thể vào lệnh ngay hoặc chốt một phần lợi nhuận
bằng đám mây Kumo mà không cần phải chờ đến tín hiệu của đường MA. Phần
này sẽ nói sâu hơn vào các kỳ sau.
Độ dày của đám mây có ý nghĩa gì không?
Độ dày của đám mây rất quan trọng. Mây
càng dày, giá càng ít có khả năng breakout thành công. Ngược lại, mây
càng mỏng, cơ hội breakout càng cao. Do đó, bất kể là mây tăng hay mây
giảm, Span A nằm trên hay Span B nằm trên, độ dày mới là vấn đề.
Giai đoạn mây mỏng sẽ cho chúng ta một
gợi ý rằng thị trường có khả năng đảo chiều. Tương tự như vậy, nếu đám
mây càng ngày càng dày, thì xác suất đảo chiều của giá càng ngày càng ít
đi.
Vậy nếu mây dày, không thể breakout thì
giá sẽ như thế nào? Theo Manesh Patel trong cuốn “Trading with Ichimoku
Clouds: The Essential Guide to Ichimoku Kinko Hyo Technical Analysis”
thì độ dày của đám mây có ảnh hưởng đến trạng thái chuyển động của giá.
Cụ thể, nếu mây càng dày, xác suất thị trường đi ngang càng cao, giá sẽ
dao động lên xuống trong một vùng cố định.
Khi một xu hướng cụ thể xuất hiện, đám mây Kumo sẽ mỏng lại và hai đường Span A – Span B của đám mây sẽ chỉ về một hướng dẫn lối cho giá.
Phân tích đám mây còn phải xem xét đến độ dốc nữa!
Đúng vậy, độ dốc của đám mây cũng cho
chúng ta rất nhiều thông tin hữu ích về giá. Cụ thể, nếu đám mây Kumo
càng dốc, thì xu hướng tăng / giảm càng mạnh.
Cái này thì dễ hiểu rồi. Nhưng còn một
điểm về độ phẳng của Ichimoku mà chúng ta chưa khai thác nữa. Đó là các
đường Span A và B. Nếu một trong hai đường này phẳng càng lâu (đi ngang
càng lâu) thì nó sẽ là một kháng cự / hỗ trợ cực kỳ có giá trị.
Như ở hình trên, trong quá khứ, tại mức
giá 132.63, đường Span B của đám mây có một giai đoạn dài đi ngang, do
đó, 132.63 chính là mức kháng cự rất mạnh cho giá hiện tại. Nhờ vào đặc
điểm này, chúng ta có thể xác định được kháng cự và hỗ trợ trong tương
lai rất hiệu quả.
Nguyên lý sóng trong Ichimoku, 1 trong 3 nguyên lý quan trọng nhất
Hệ thống Ichimoku – Các nhà phân tích theo hệ thống giao dịch
Ichimoku thì thường phân tích kỹ lưỡng về mô hình, sóng, tính toán giá
cả và thời gian mục tiêu. Ba điểm chính của phân tích trong Hệ thống Ichimoku Kinko Hyo được gọi là:
1. Nguyên lý sóng
2. Giá mục tiêu
3. Nguyên lý thời gian
Chúng phải được sử dụng đồng thời vì về
cơ bản chúng liên quan và có sự kết nối lẫn nhau. Đối với các nhà phân
tích phương Tây những nguyên lý này cũng là hết sức thông dụng và gần
như ai cũng hiểu.
Những mô hình bền vững thường có một
trong vài cấu trúc thông thường. Những cơ bản trình bày dưới đây là các
đường đi tiêu chuẩn mà Ichimoku Sanjin thấy thị trường vẫn thường đi
theo.
Nguyên Lý Sóng
Đầu tiên, chúng ta hãy nhìn vào các nền
tảng bền vững của Nguyên Lý Sóng. Mặc dù có rất nhiều biến thể trong số
này, tất cả đều có cơ bản giống nhau:
• Phạm vi mức giá và số lượng sóng với kích thước sóng tương ứng với hai yếu tố đầu tiên. • Các dự báo về những điểm phá vỡ về giá (break-out price) dựa trên kích thước của những con sóng và những mẫu hình nền tảng.
Nói cách khác, những mẫu hình tích lũy
(consolidation patterns) có thể được phân chia thành một loạt các con
sóng nhỏ và kích thước của các mẫu hình xác định sự phát triển của sóng
tiếp theo sau sự phát vỡ về giá (break-out) được hình thành.
Hình 4.1: Sóng đơn
Bắt đầu với sóng đơn giản nhất gọi là
“I”: một thị trường hoặc sẽ đi lên theo tuần tự tuyến tính theo đường
thẳng hoặc đi xuống đều đặn, thường thì một con sóng này sẽ đi theo sau
con sóng kia.
Hình 4.2: Sóng đôi
Hai sóng đơn cùng nhau kết hợp thì tạo
thành sóng hình chữ “V”, đây là mẫu hình đơn giản thứ hai, và nó có thể
bắt đầu với một di chuyển tăng giá sau đó đảo ngược, hoặc ngược lại.
Hình 4.3: Sóng 3
Những mẫu hình sóng trở nên một chút
thú vị hơn với sóng “N”,đây là một sự kết hợp xen kẽ ba sóng hoặc di
chuyển lên trước hoặc xuống trước (như trong hình).
Hình 4.1 Sóng năm
Sau đó, chúng tôi có 5 sóng kết hợp:
1. Sóng “P” chúng ta thể gọi là sóng
hình tam giác, hoặc mô hình cờ hiệu, tại đó 5 sóng xen kẽ với kích thước
nhỏ dần dần và chúng ta có thể vẽ ra được. Những điều này xảy ra trong
một thị trường lên hoặc xuống, với điểm đầu tăng vượt trội trong một thị
trường tăng giá dài hạn (longer term bull market) và điểm đầu cờ xuống
dốc mạnh trong một thị trường giảm giá dài hạn hơn (bear market).
2. Sóng “Y” là mô hình 5 sóng xen kẽ,
chúng ta có thể mô tả nó như là một mô hình mở rộng đỉnh hoặc đáy. Một
mẫu hình tam giác được hình thành là loại mẫu hình có biến động giá lớn
dần hơn theo thời gian chứ không phải là nhỏ. Đây có thể là khởi đầu của
một đợt tăng mạnh hoặc với một sự suy giảm mạnh về giá.
Cũng khá thú vị khi lưu ý đến cách sử
dụng các chữ cái của phương Tây khi đặt tên cho cả 2 mô hình và những
con sóng trong nó. Người ta cho rằng cách đặt tên này làm cho hệ thống
có cái nhìn thiên về kỹ thuật và sang trọng hơn.
Cũng giống như ở một số nước thị trường
mới nổi, những cái áo phông (T-shirt) thường được trang trí những câu
khẩu hiệu tiếng Anh cho hợp mốt (thường bị đánh vần sai), vì vậy ở Nhật
Bản cũng thế, sử dụng các từ phương Tây được coi là hợp thời. Sự thật là
có lẽ những ký tự Trung Quốc không có thể mô phỏng hình dạng của những
sự di chuyển trong các bước sóng, ví dụ như sóng N Wave (đó là lên,
xuống, lên). Ngoài ra, ký tự Trung Quốc không tuân theo trong một dãy A –
Z như bảng chữ cái Tây, và do đó không thích hợp cho việc đếm sóng tuần
tự liền nhau. Chúng ta sẽ đề cập về nó sau.
Có lẽ Hosoda đã rất lạc quan khi tin
rằng mỗi bước di chuyển của mức giá có thể được giải quyết bằng cách kết
hợp của chỉ năm mẫu sóng đã đề cập ở trên. Trong phân tích kỹ thuật
phương Tây, chúng tôi sử dụng các mô hình P và Y như là một tiêu chuẩn,
mặc dù nó xảy ra và hiếm khi liên quan đến toàn bộ loạt các động thái
khác có thể được quan sát, hầu hết trong số đó không thể gọi tên và được
xem như là tín hiệu nhiễu nói chung. Hai mô hình P, Y được xem là những
mô hình đứng riêng lẻ, đơn độc một mình, trong khi 3 mô hình sóng còn
lại (I, V, N) có thể được sử dụng trong kết hợp với nhau, bổ trợ lẫn
nhau.
Cũng như 3 mô hình cơ bản (I, V, N)
Sasaki đã thêm một mô hình ông gọi là “4”, vì nó là một mô hình bốn
bước, một lần nữa thì đầu tiên sóng “4” có thể bắt đầu bằng một đợt tăng
hoặc một đợt suy giảm. Vì vậy, P và Y được sử dụng theo cách riêng. Bốn
loại sóng khác, trong đó mỗi loại có hai biến thể (bắt đầu với 1 sóng
lên hoặc xuống), có thể được kết hợp với nhau để tạo thành những mô hình
sóng phức hợp.
Các đồ thị dưới đây giúp bạn hình dung
các con sóng có thể biến đổi một cách nhanh chóng thành nhiều hình thức
khác nhau như thế nào. Và các khối mẫu hình cơ bản có thể tạo ra vô số
những hình thức di chuyển tiềm ẩn của thị trường. Bây giờ bạn có thể xem
những kiểu di chuyển chúng ta thường thấy trong các đồ thị.
====
=====
Không có giới hạn cho số lượng của sóng
Xu hướng dài, được xây dựng dựa trên những xây dựng cơ bản này, được
đặt tên liên tục, tuần tự, sử dụng số hoặc các chữ cái phương Tây. Không
có giới hạn nào về số lượng các sóng cần thiết để hoàn thành một xu
hướng dài hạn, không giống như các động thái ngắn hạn bị giới hạn trong
những con sóng đơn, đôi hoặc ba.
Không giống như trong lý thuyết sóng Elliot, trong một thì trường
tăng phải có 5 sóng xen kẽ cao hơn, và cả thị trường giảm ba sóng di
chuyển thấp hơn. Hosoda hài lòng với việc tính những bước di chuyển dài
hạn như 3 hoặc 5 thậm chí 20 sóng ( được đặt với các chữ cái từ A đến để
Z hoặc dãy chữ số đến vô tận).
Nến tuần tốt hơn nến ngày
Tác giả tin rằng việc đếm sống lượng sóng hiệu quả hơn khi làm việc
với cây nến tuần, chứ không phải là nến ngày. Chắc chắn rằng những mức
cao quan trọng và mô hình đảo chiều mạnh mẽ thường rõ ràng khi được thể
hiện trên đồ thị tuần. Từ đó, việc tính sóng dễ dàng được chấp nhận hơn
và những phân tích có cơ hội thành công lớn hơn. Tôi thường đặt niềm tin
lớn hơn cho mẫu hình nến trên đồ thị tháng và tuần chứ không phải đồ
thị ngày.
Kết luận: Nguyên lý sóng bao gồm có 2 phần
Nguyên tắc ít quan trọng hơn là việc gắn mốc cho những mức cao và
thấp trung bình bằng các chữ cái hoặc con số. Vì không có giới hạn số
lần di chuyển nên quá trình này có vẻ như không thích hợp lý. Công dụng
duy nhất tôi có thể thấy từ việc này là để làm cho nó dễ dàng hơn khi
chia nhỏ các xu hướng dài hạn thành những thành phần sóng ngắn hạn cấu
thành sóng lớn.
Đáng nói hơn là tất cả các mô hình bền vững đều có thể chia nhỏ ra
với sự kết hợp của các mô hình I. V, N, P và Y, thêm mô hình số 4 của
ông Sasaki
Ý nghĩa những đám mây trong hệ thống Ichimoku Charts
1. Mức hỗ trợ hay kháng cự
Thứ nhất, nếu cây nến ngày hôm nay nằm
trên đám mây, đó là một xu hướng tăng. Điểm phía trên cùng của đám mây
là mức hỗ trợ thứ nhất (first level of support) và điểm phía dưới là mức
hỗ trợ hỗ trợ thứ hai (second level of support).
Từ kinh nghiệm của mình, tôi đã thấy
rằng nó thật sự có hiệu quả, nhưng người ta phải dành cho chúng (các
điểm hỗ trợ trên và dưới của mây) một chút thời gian. Thông thường, tôi
cũng sẽ đợi cho đến khi cuối ngày để xem liệu mức giá đóng cửa thấp hơn
đám mây hay không, và trước đó tôi cũng xem xét liệu xu hướng này đã
mang tính chất đảo chiều hay chưa.
Ngược lại là trường hợp khi nến giá nằm dưới đám mây, với điều này khiến đám mây trở thành mức kháng cự.
Thông thường mức giá di chuyển qua các
hỗ trợ hay kháng cự đầu tiên và đi vào giữa đám mây. Khi điều này xảy
ra, chúng ta theo dõi hình dạng của nến ngày để xem liệu nó có đưa ra
một tín hiệu đảo chiều cho chúng ta không.
Đánh
giá đồ thị: Chú ý các đường là nấc thang đi xuống của Senkou Span B khi
những mức giá cao nhất của 52 ngày cứ ngày một giảm xuống
2. Xác định hướng giao dịch
Đám mây có thể rất hữu ích trong việc
điều chỉnh một vị thế giao dịch cơ bản. Điều này giúp chúng ta có một
phần lợi nhuận hoặc thực hiện giao dịch mới mà không cần chờ đợi các
đường trung bình cắt nhau (Chi tiết hơn được đề cập trong chương 6: Giao dịch quyền chọn Options khi sử dụng Ichimoku).
3. Độ dày của đám mây
Độ dày của đám mây rất quan trọng. Các
đám mây dày, cho ta thấy một điều, sẽ ít có khả năng nó sẽ bị phá vỡ bởi
đường giá. Đám mây mỏng, thì khả năng giá sẽ xuyên qua, phá vỡ đám mây
càng tăng cao.
Vì vậy, đám mây là đám mây (riêng nó đã
có ý nghĩa quan trọng – ý tác giả là đám mây rất quan trọng – người
dịch) mà không cần xét đến Senkou Span A hay Senkou Span B ở trên độ dày
của đám mây có ý nghĩa quan trọng.
Đánh
giá đồ thị: Senkou Span B sẽ thường là đường nằm ngang, khi vị trí cao
hoặc thấp quan trọng (52 ngày) giữ nguyên trong 1 thời gian dài
4. Điểm giao nhau
Tôi thường được hỏi liệu các điểm giao
nhau của những đường Senkou Span có quan trọng không? Không. Ta thấy một
thực tế là tại thời điểm đó (khi các đường Senkou Span A và Senkou Span
B giao cắt) đám mây sẽ ở hình thái mỏng nhất của nó.
Xu hướng đảo chiều
Phần mỏng của các đám mây cung cấp cho
chúng ta một ý tưởng về thời điểm mà thị trường có khả năng thay đổi xu
hướng. Nhìn về phía trước và xem xét xem khi nào và tại mức giá nào, đám
mây sẽ trở nên mỏng hơn.
Tương tự như vậy, nếu đám mây trở nên
dày hơn, cơ hội của sự đảo chiều xu hướng sẽ giảm trong tương lai. Nó
cung cấp số ngày (tôi muốn nói 3 hoặc 4 ngày xung quanh ngày trung tâm)
lúc mà giá sẽ có cơ hội phá vỡ thành công và xuyên qua các đám mây.
Và cũng chỉ ra mức giá cần bị phá vỡ để
có thể có một sự đảo chiều quan trọng, với động thái tăng tốc khi giá
cắt qua điểm giao nhau (giữa các đám mây Senkou Span A & Senkou Span
B).
5. Khoảng cách giữa giá và đám mây
Khoảng cách giữa các đám mây và mức giá hiện tại là không thật sự quan trọng.
Một lần nữa, phương pháp phương Tây
thường cho rằng khi giá cả không đi theo một đường xu hướng (trend
line), hoặc hai đường trung bình, thị trường không ổn định và có thể mất
kiểm soát. Với phương pháp Ichimoku thì không như vậy.
Về mặt nào đó là một ý tưởng tương tự
như độ dốc của đường trung bình 26 ngày (Kijun sen), khi nó dốc mạnh, có
nghĩa là một xu hướng giá cả mạnh mẽ. Nếu xét nó là một khái niệm, nó
sẽ trái ngược với chỉ số sức mạnh tương đối – Relative Strength Index
(RSI), hoặc dùng thay thế giá trị trung bình.
Tuy nhiên, khi đối mặt với hành động
giá tăng vượt mức, tôi quan tâm chặt chẽ hơn đối với các mẫu hình nến
đảo chiều. Có thể hơi thô lỗ khi cảnh báo rằng “cuối cùng sẽ là đêm tối”
khi những người khác đang đổ xô vào mua cổ phiếu, và chúng ta đều không
thể biết chuyển gì sẽ xảy ra “chúng ta không thể đếm gà trước đi chúng
nở”. Và sự di chuyển mạnh mẽ có thể là ngắn ngủi nhưng khi đã vượt ra xa
hơn so với mức mọi người hy vọng. Sự tăng giá không thể kéo dài mãi
mãi, vì thế chúng ta phải để mắt đến các dấu hiệu của sự bất ổn trong
bản thân nến.
Đánh
giá đồ thị: Thị trường này rất mạnh khi đã tăng 25% chỉ trong 1 tháng –
khá khó để duy trì mức độ tăng giá. Chú ý rằng có 1 mẫu hình shooting
star (sao băng) lớn vào ngày 12/12, chắc chắn rằng cảnh báo 1 sự bất ổn
6. Đám mây dành cho thị trường đang trong xu hướng
Hãy nhớ rằng, đây là một hệ thống (hệ
thống Ichimoku Kinko Hyo) giao dịch dành cho các thị trường có xu hướng
(trend following). Trong thị trường đi ngang nó không hiệu quả, bạn có
thể thấy trong 2/3 đoạn đầu của đồ thị dưới đây – chỉ số S&P500.
Đánh
giá đồ thị: Giá di chuyển đi ngang 1 khoảng rộng từ tháng 7 đén tháng
11, (coi như không có xu hướng), vì vậy không sử dụng được đám mây ở đây
khi phân tích.
Hệ thống giao dịch Ichimoku Charts – Ichimoku Kinko Clouds
Hệ thống giao dịch Ichimoku Charts – Ichimoku Kinko Clouds là cuốn
sách của Nicole Elliott, nhà phân tích kỹ thuật và cựu biên tập viên của
Investor Chronicle. Cuốn sách được xuất bản vào năm 2018 là ấn bản thứ
hai được sửa đổi và cập nhật của cuốn sách đầu tiên nhằm giới thiệu kỹ
thuật biểu đồ Ichimoku cho các nhà giao dịch nói tiếng Anh.
Biểu đồ Ichimoku hay còn gọi là biểu đồ Đám mây là một phương pháp
phân tích kỹ thuật có nguồn gốc từ Nhật Bản vào những năm 1930. Nó kết
hợp các biểu đồ hình nến với một loạt các đường trung bình động tạo
thành các mức hỗ trợ và kháng cự động, được gọi là Đám mây. Đám mây cũng
chỉ ra hướng xu hướng và động lượng của thị trường.
Cuốn sách trình bày về lịch sử và sự phát triển của biểu đồ Ichimoku,
giải thích bối cảnh hình thành và phát triển của biểu đồ Ichimoku theo
thời gian. Nó cũng giải thích cách xây dựng và diễn giải biểu đồ Đám mây
bằng cách sử dụng các ví dụ và hình ảnh minh họa rõ ràng. Cuốn sách đi
sâu vào chi tiết về cách sử dụng Đám mây để phân tích xu hướng, tín hiệu
giao dịch, đặt lệnh dừng lỗ và quản lý rủi ro. Nó cũng giới thiệu các
khái niệm nâng cao của Ba Nguyên tắc: Nguyên tắc Sóng, Mục tiêu Giá và
Nguyên tắc Khoảng thời gian, được sử dụng để dự đoán biến động giá và
khung thời gian trong tương lai.
Cuốn sách được viết với giọng văn chuyên nghiệp và dễ tiếp cận, phù
hợp cho cả người mới bắt đầu và nhà giao dịch giàu kinh nghiệm muốn tìm
hiểu thêm về kỹ thuật độc đáo và mạnh mẽ này. Cuốn sách cũng bao gồm
những suy nghĩ của tác giả từ một thập kỷ sử dụng kỹ thuật này và các
nghiên cứu điển hình mới chứng minh ứng dụng thực tế của nó ở các thị
trường và khung thời gian khác nhau.
Nhìn chung, Hệ thống giao dịch Ichimoku Charts – Ichimoku Kinko
Clouds là hướng dẫn toàn diện và chính xác về một trong những phương
pháp phân tích kỹ thuật phổ biến và hiệu quả nhất. Đây là nguồn tài
nguyên quý giá cho bất kỳ ai muốn nâng cao kỹ năng và hiệu suất giao
dịch của mình bằng biểu đồ Đám mây.
Cuốn sách được chia thành bốn phần:
– Phần I: Lịch sử biểu đồ nến. Phần này giải thích nguồn gốc và sự
phát triển của biểu đồ nến ở Nhật Bản cũng như cách chúng được cải tiến
bởi nhà báo Ichimoku Sanjin vào những năm 1930.
– Phần II: Xây dựng biểu đồ đám mây. Phần này giải thích năm thành
phần của biểu đồ Ichimoku: Tenkan-sen (đường chuyển đổi), Kijun-sen
(đường cơ sở), Senkou Span A (nhịp dẫn đầu A), Senkou Span B (nhịp dẫn
đầu B) và Chikou Span (khoảng trễ). Nó cũng giải thích cách vẽ chúng
trên các khung thời gian khác nhau và cách sử dụng chúng làm mức hỗ trợ
và kháng cự.
– Phần III: Giải thích biểu đồ đám mây. Phần này giải thích cách sử
dụng biểu đồ Ichimoku để xác định xu hướng, tín hiệu, đảo chiều, đột
phá, điều chỉnh và mục tiêu. Nó cũng giải thích cách kết hợp biểu đồ
Ichimoku với các công cụ kỹ thuật khác như Fibonacci thoái lui, đường xu
hướng, bộ dao động và chỉ báo âm lượng.
– Phần IV: Phân tích biểu đồ đám mây nâng cao. Phần này giải thích ba
nguyên tắc phân tích Ichimoku: Nguyên lý Sóng, Nguyên tắc Mục tiêu Giá
và Nguyên tắc Khoảng thời gian. Nó cũng cung cấp một nghiên cứu điển
hình mới về việc sử dụng biểu đồ Ichimoku để giao dịch Bitcoin.
Cuốn sách là nguồn tài nguyên quý giá cho bất kỳ ai muốn hiểu và sử
dụng một trong những phương pháp phân tích kỹ thuật phổ biến và hiệu quả
nhất trên thế giới. Nó cũng là minh chứng cho sự hiểu biết chuyên môn
và niềm đam mê của tác giả đối với biểu đồ Ichimoku
Hệ thống giao dịch Ichimoku Charts – Ichimoku Kinko Clouds
cũng giới thiệu các khái niệm nâng cao về Ba Nguyên lý, được sử dụng để
dự đoán biến động giá và khung thời gian trong tương lai dựa trên biểu
đồ Đám mây. Ba nguyên lý đó là:
– Nguyên lý sóng: Nguyên lý này cho biết giá di chuyển theo từng đợt
phản ánh tâm lý của người tham gia thị trường. Các sóng có thể được phân
thành năm loại: xung, hiệu chỉnh, đường chéo, tam giác và phẳng. Các
mẫu sóng có thể được sử dụng để xác định hướng xu hướng, các điểm đảo
chiều và các mục tiêu tiềm năng.
– Mục tiêu giá: Nguyên lý này nêu rõ giá có xu hướng di chuyển về một
mức nhất định có thể được tính toán dựa trên các thành phần Đám mây.
Mục tiêu giá có thể được sử dụng để đặt lệnh chốt lời hoặc dừng lỗ cũng
như để đánh giá sức mạnh của xu hướng.
– Nguyên lý thời gian: Nguyên lý này nêu rõ giá có xu hướng di chuyển
trong một khung thời gian nhất định có thể được ước tính dựa trên các
thành phần Đám mây. Nguyên lý khoảng thời gian có thể được sử dụng để
xác định khoảng thời gian của xu hướng cũng như dự đoán những thay đổi
có thể xảy ra trong điều kiện thị trường.
Cuốn sách đi sâu vào chi tiết về cách sử dụng Ba nguyên lý để phân
tích biểu đồ Đám mây, với nghiên cứu chuyên sâu về từng nguyên lý và
nhiều ví dụ.
Giới thiệu tác giả
Nicole Elliott là nhà phân tích kỹ thuật và là tác giả của nhiều cuốn
sách về thị trường tài chính, bao gồm “Hệ thống giao dịch Ichimoku
Charts – Ichimoku Kinko Clouds”. Trong cuốn sách này, cô giải thích lịch
sử, nguyên tắc và ứng dụng của Đám mây Ichimoku Kinko, một kỹ thuật
biểu đồ phổ biến của Nhật Bản kết hợp các chỉ báo xu hướng, động lượng
và hỗ trợ/kháng cự. Cô cũng cung cấp các ví dụ thực tế và nghiên cứu
điển hình để minh họa cách các nhà giao dịch và nhà đầu tư có thể sử
dụng Đám mây Ichimoku Kinko để xác định cơ hội giao dịch, đặt mức dừng
lỗ và quản lý rủi ro.
Nicole Elliott có hơn 30 năm kinh nghiệm trong ngành tài chính, làm
nhà giao dịch, nhà phân tích và nhà đào tạo cho nhiều tổ chức khác nhau
như Ngân hàng Mizuho Corporate, Reuters, Bloomberg và Hiệp hội các nhà
phân tích kỹ thuật. Cô là thành viên của Hiệp hội các nhà phân tích kỹ
thuật và là thành viên của Hiệp hội kỹ thuật viên thị trường được công
nhận. Cô viết bản tin hàng ngày cho Investor Chronicle, về ngoại hối,
trái phiếu và chỉ số vốn cổ phần. Cô cũng giảng dạy các khóa học về phân
tích kỹ thuật và Ichimoku Kinko Cloud tại Trường Kinh tế Luân Đôn và
các địa điểm khác. Nicole Elliott rất đam mê chia sẻ kiến thức và hiểu
biết của mình về Đám mây Ichimoku Kinko với nhiều đối tượng hơn. Cô tin
rằng kỹ thuật này có thể giúp các nhà giao dịch và nhà đầu tư ở mọi cấp
độ cải thiện hiệu suất và lợi nhuận của họ trên thị trường tài chính. Cô
cũng hy vọng rằng cuốn sách của mình sẽ góp phần công nhận và đánh giá
cao Đám mây Ichimoku Kinko như một công cụ có giá trị và linh hoạt để
phân tích kỹ thuật.